Những tác động tích cực và tiêu cực của việc nhập khẩu giống vật nuôi PDF In E-mail
Người viết: TS. Nguyễn Thanh Sơn (Cục chăn nuôi)   
11/02/2011

Để phát triển chăn nuôi trang trại, công nghiệp không thể thiếu con giống có năng suất cao, thời gian nuôi ngắn. Vì vậy, hàng năm nước ta phải nhập khẩu nhiều giống vật nuôi từ nước ngoài để đáp ứng nhu cầu sản xuất trong nước là việc làm cần thiết. Tuy nhiên, bên cạnh các mặt tích cực, việc nhập khẩu giống mới cũng gây ra nhiều hệ luỵ cho ngành chăn nuôi nước ta.

Những tác động tích cực

Mặc dù Việt Nam là quốc gia có nhiều giống vật nuôi, nhưng phần lớn các giống này đều có năng suất thấp, thời gian nuôi dài, do vậy ngay từ những năm 70 của thế kỷ trước, nước ta đã phải nhập một số giống vật nuôi từ nước ngoài. Các giống lợn Bershire, Newhamshire, Edell, Dallan, Cornwall, giống vịt Bắc Kinh, Anh Đào, gà Hubbas, bò Lang trắng đen, trâu Murah v.v… là những giống vật nuôi ngoại có mặt sớm nhất ở Việt Nam. Còn đến thời điểm hiện nay thì hàng trăm giống mới đã và đang được du nhập vào nước ta. Cụ thể về giống lợn phổ biến là Yorshire, Landrace, Duroc, Pietran, PIC, France Hybrid. Về giống bò thịt gồm Charolais, Limousine, Herefore, Brahman, Red Sindhi, Simmental, Santagestrudis, giống bò sữa gồm Hostein Friesian, Jersey v.v…; các giống gà có Leghor, Brow nick, Hyline, Lohman Brow, Hisex brow, Isa MPK, Isa brow, Babcock-308, Sasso, Lương Phượng, Kabir, gà Sao, gà Ai Cập …; các giống vịt Khaki Campbell, Cherry Valley, Super M, Layer 2000…; các giống ngan Pháp R51, R71; các giống dê gồm Saanen, Alpine, Jumnapari, Barbari, Beeal, Boer. Giống thỏ gồm New Zealand, California, Panon. Giống ong gồm có Apis Mellifera Ligustica, Apis Mellifera Carnica. Và các giống tằm cũng phụ thuộc vào nước ngoài như giống 01, 02, A1, A2, A, B, C, D. Ngoài các giống vật nuôi nêu trên, hàng năm một số giống gia súc, gia cầm mới vẫn được nhập khẩu vào nước ta để nuôi khảo nghiệm. Với số liệu thống kê nêu trên cho thấy rằng hầu hết các giống vật nuôi phổ biến của thế giới đã có mặt ở Việt Nam. Chỉ tính riêng trong giai đoạn 2000- 2010, hàng năm nước ta đã nhập khẩu bình quân khoảng 1,0-1,2 triệu con giống gia cầm, 500-1.000 giống lợn, 5.000- 6.000 bò giống sữa và thịt.Việc nhập khẩu nguồn gen mới đã góp phần quan trọng nâng cao năng suất vật nuôi, đa dạng hoá sản phẩm chăn nuôi ở nước ta. Hầu hết các giống ngoại không những được đưa vào sản xuất chăn nuôi trực tiếp, mà còn được sử dụng làm nguyên liệu di truyền để lai tạo nhằm cải thiện năng suất của các giống bản địa. Đến nay một số giống vật nuôi nhập khẩu đã được nhân rộng và phát triển mạnh trong sản xuất như các giống lợn Yorshire, Landrace, Duroc, Pietran, giống bò sữa Hostein Friesian, gà Sasso, Lương Phượng, Brow nick, Hyline v.v…Chính nhờ có các giống vật nuôi nhập khẩu cùng với việc áp dụng các công nghệ chăn nuôi tiên tiến đã thúc đẩy sự phát triển phương thức chăn nuôi trang trại công nghiệp trong những năm qua, tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hoá lớn. 

Những tác động tiêu cực

Bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, việc nhập khẩu và sử dụng các giống ngoại không có kiểm soát không những gây ra những hậu quả cho công tác bảo tồn và khai thác các giống vật nuôi bản địa, mà còn mang đến nhiều rủi ro cho ngành chăn nuôi do nhiễm các bệnh dịch mới. Kết quả điều tra nguồn gen vật nuôi đã phát hiện ở nước ta có khoảng 50 giống vật nuôi thuộc 12 loài, nhưng đến nay có 12 giống không được sử dụng, một số giống đã giảm dần và nguy cơ bị tuyệt chủng. Ngày nay các giống lợn Ỉ, Thuộc Nhiêu, Ba Xuyên, gà Văn Phú chỉ có nhìn thấy trong các bức tranh Đông Hồ hoặc trong một số cuốn sách giáo khoa mà thôi. Gà Ri là một trong các giống gia cầm có chất lượng thịt thơm ngon được nuôi phổ biến ở các miền quê nước ta trong các thập niên trước đây. Tuy nhiên, do việc lai tạo tuỳ tiện, ngẫu hứng giữa các giống các giống gà thả vườn nhập nội như Lương Phượng, Tam Hoàng, Kabir với gà Ri trong quá trình chăn thả tự do đã làm tăng tính pha tạp và giảm dần tính thuần nhất của giống gà nổi tiếng này. Ngày nay số lượng gà Ri thuần chủng đã giảm sút đáng kể. Dưới áp lực của việc tăng năng suất, người chăn nuôi hầu như đã bỏ quên các giống nội địa vốn có rất nhiều đặc tính tốt mà chỉ chú trọng khai thác giống nhập từ bên ngoài. Người ta quên hẵn một điều là các giống bản địa tuy năng suất thấp, nhưng mang các gen quý giá quyết định chất lượng sản phẩm, đồng thời chúng có khả năng chống chịu bệnh tật và tính thích nghi cao với điều kiện chăn thả tự nhiên. Hơn thế nữa phải trải qua hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm, cha ông ta mới thuần hoá, chọn lọc, lai tạo được các giống vật nuôi để lại cho con cháu như ngày nay. Và nếu chúng bị mất đi thì chẳng bao giờ tìm lại được và thế hệ con cháu chúng ta lại có lỗi với tổ tiên.Mặt khác, cùng với việc nhập khẩu giống từ nước ngoài là việc du nhập thêm một số bệnh mới trên gia súc, gia cầm mà từ trước tới nay chưa hề có ở Việt Nam. Chẳng hạn bệnh Gumboro ở gà trước những năm 70 không có ở nước ta, nhưng nay thì khá phổ biến. Đặc biệt là bệnh cúm gia cầm và Tai xanh ở lợn chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam trong mấy năm gần đây, nhưng hàng năm đã và đang gây ra thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi.Nguyên nhân của tình trạng nêu trên là nước ta chưa có một chiến lược quốc gia dài hạn và đầu tư thoả đáng nguồn lực của xã hội để phát triển giống vật nuôi, trong đó có chương trình bảo tồn, phát triển và khai thác các giống bản địa. Trong khi đó chúng ta lại thiếu các biện pháp đánh giá và kiểm soát công tác lai tạo giống, dẫn đến tình trạng ai thích gì làm nấy và lai tạo giống một cách tuỳ tiện, khiến giống không được đánh giá, kiểm soát về chất lượng nhưng vẫn được lưu thông trên thị trường và một số giống nội địa không những đã bị pha tạp mà còn có nguy cơ biến mất.  

Giải pháp nào cho vấn đề nêu trên?

Trước thực trạng nêu trên, đã đến lúc chúng ta phải xây dựng một chiến lược phát triển các giống vật nuôi chủ lực để vừa khai thác có hiệu quả các giống nhập khẩu có năng suất cao phù hợp với phương thức chăn nuôi trang trại, công nghiệp, đồng thời vừa bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững các giống bản địa phục vụ cho hướng chăn nuôi sinh thái. Để đạt được mục tiêu đó, chúng tôi cho rằng cần thực hiện một số giải pháp sau đây:           

 

Thứ nhất, cần tiếp tục đầu tư và thực hiện chương trình quốc gia về bảo tồn, cải tiến và phát triển các giống vật nuôi bản địa, trong đó chú trọng các giống đang có thị trường tiêu thụ. Xem đây là ưu tiên số một trong chương trình giống vật nuôi trong những năm sắp tới. Thông qua các nguồn lực từ sự nghiệp khoa học, từ chương trình giống ưu tiên đầu tư cho công tác nghiên cứu, phát triển sản xuất các giống có đặc tính tốt, đáp ứng nhu cầu thị trường trước mắt cũng như lâu dài. Cần sớm có cơ chế, chính sách mới phân bổ nguồn lực của nhà nước cho chương trình   giống vật nuôi, trong đó ưu tiên cho lĩnh vực tư nhân thay vì đầu tư quá nhiều cho các cơ sở nghiên cứu của nhà nước, nhưng hiệu quả thấp và đóng góp cho sản xuất còn ít (hiện nay đã có một số cơ sở chăn nuôi tư nhân đầu tư nghiên cứu cải tiến năng suất và phát triển sản xuất hàng ngàn con gà Ri thuần chủng, hàng trăm con lợn rừng lai nhưng vẫn chưa nhận được sự hỗ trợ nào của nhà nước).           

 

Thứ hai, bên cạnh chính sách hỗ trợ các cơ sở chăn nuôi trang traị sản xuất theo tiêu chuẩn VIETGAHP, cần có chính sách hỗ trợ phát triển phương thức chăn nuôi sinh thái với vật nuôi chủ lực là các giống bản địa. Đây là hướng lựa chọn khôn khoan khi mà ngành chăn nuôi trong nước đang phải cạnh tranh gay gắt với sản phẩm chăn nuôi cùng loại nhập khẩu ngày càng gia tăng.           

Thứ ba, để khai thác và sử dụng có hiệu quả các giống vật nuôi ngoại, giảm thiểu rủi ro do dịch bệnh, cần có sự chuyển biến tích cực trong việc nhập khẩu giống. Tránh tình trạng nhập khẩu các giống vật nuôi kém thích nghi, hoặc nhập khẩu ồ ạt nhiều nguồn gen mà không có định hướng. Đồng thời, các cơ sở sản xuất giống cần chú trọng làm tốt công tác chọn lọc, nhân giống đối với các giống đã nhập khẩu, nhằm khai thác hết tiềm năng di truyền của chúng. Điều này không những sẽ giảm sự lãng phí nguồn lực cho các doanh nghiệp khi phải nhập khẩu giống liên tục mà còn hạn chế tác động tiêu cực đối với các công tác bảo tồn, khai thác và sử dụng có hiệu quả các giống vật nuôi bản địa ở nước ta trước mắt cũng như lâu dài./.

TS. Nguyễn Thanh Sơn

Nguon : http://www.cucchannuoi.gov.vn/?index=h&id=1107

 
Cập nhật ( 11/02/2011 )
 
< Trước   Tiếp >