Lịch
sử xây dựng và phát triển
Năm 2011, Trường Đại học Nông nghiệp Nông nghiệp Hà Nội kỷ
niệm 55 ngày thành lập cũng là năm khoa Tài nguyên và Môi trường tròn 35 tuổi.
Tiền thân của khoa Tài nguyên và Môi trường là khoa Quản lý ruộng đất được thành
lập theo QĐ số 192NN/TC ngày 19/11/1976 của Bộ Nông nghiệp, trên cơ sở từ một số
bộ môn của khoa Trồng trọt cũ như bộ môn Thổ nhưỡng-Nông hoá, Canh tác học, Thuỷ
nông - Trắc đạc, Hóa học và bộ môn mới thành lập là Quy hoạch & Quản lý đất đai,
Vi sinh vật đất, Phân tích đất.
Những người đặt nền móng cho Khoa, cũng là những người đã
đóng góp cả cuộc đời để xây dựng Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, là cố
GS.NGND Lê Duy Thước, cố GS.NGƯT Cao Liêm…
Nhiệm vụ cơ bản của Khoa trong thời kỳ đầu là đào tạo kỹ sư
thuộc ngành Thổ nhưỡng-Nông hoá và ngành Quản lý đất đai. Sự ra đời của khoa
Quản lý ruộng đất mở đầu thời kỳ đào tạo cán bộ quản lý đất đai bậc đại học và
trên đại học ở nước ta.
Năm 2003, theo QĐ số 2276/QĐ-BGD&ĐT-TCCB ngày 21/5/2003 của
Bộ Giáo dục và Đào tạo, khoa Quản lý ruộng đất được bổ sung thêm bộ môn Sinh
thái - Môi trường vốn từ khoa Nông học và được đổi tên thành khoa Đất và Môi
trường.
Năm 2008, do yêu cầu phát triển của ngành Tài nguyên & Môi
trường, để đáp ứng nhiệm vụ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước trong giai
đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, theo QĐ số 281/QĐ-NN1 ngày 28/2/2008 của Hiệu
trưởng Trường Đại học Nông nghiệp 1, khoa Đất và Môi trường được đổi tên thành
khoa Tài nguyên và Môi trường.
Cho đến nay, khoa Tài nguyên và Môi trường đã trải qua 6
nhiệm kỳ. Trong quá trình phát triển, số ngành học, số bộ môn và số các môn học
đã có thay đổi để thực hiện nhiệm vụ đào tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển của
nông nghiệp, nông thôn và gắn với việc ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ
môi trường. Chúng ta có thể thấy được phần nào điều đó qua diễn biến số bộ môn ở
các nhiệm kỳ tổ chức của Khoa.
Nhiệm kỳ 1976 - 1988 Khoa có 7 bộ môn: Thổ nhưỡng-Nông hoá,
Canh tác học, Thuỷ Nông - Trắc đạc, Quy hoạch và Quản lý đất đai, Phân tích đất,
Vi sinh vật đất, Hoá học.
Nhiệm kỳ 1988 -1992 Khoa có 4 bộ môn
(giai đoạn này hình thành các bộ môn ghép): Thổ nhưỡng - Nông hoá - Vi sinh vật,
Thuỷ nông - Canh tác, Quy hoạch và Quản lý đất đai, Hoá học.
Nhiệm kỳ 1992 - 1996 Khoa có 6 bộ môn (năm 1994 bộ môn Quy
hoạch và Quản lý đất đai tách thành 3 bộ môn): Quản lý đất đai, Quy hoạch đất
đai, Hệ thống thông tin đất, Thổ nhưỡng - Nông hoá - Vi sinh vật, Thuỷ nông -
Canh tác, Hoá học.
Nhiệm kỳ 1996 - 2000 số bộ môn trong Khoa
không thay đổi, giữ nguyên như nhiệm kỳ trước.
Nhiệm kỳ 2001 - 2006 Khoa có 9 bộ môn: Khoa học Đất, Nông hoá
- Vi sinh vật, Thuỷ nông - Canh tác, Sinh thái môi trường, Công nghệ Môi trường,
Quản lý đất đai, Quy hoạch đất đai, Địa chính và Hoá học. Đây là giai đoạn có sự
thay đổi nhiều về cơ cấu tổ chức bộ môn và các ngành học cùng với sự đổi tên
khoa Quản lý ruộng đất thành khoa Đất và Môi trường. Bộ môn Thổ nhưỡng - Nông
hoá tách thành bộ môn Khoa học đất và Nông hoá - Vi sinh vật; tổ chức lại bộ môn
mới là Địa chính và thành lập mới bộ môn Công nghệ môi trường.
Trong nhiệm kỳ 2006 – 2011 khoa có nhiều đổi mới cả về chiều
rộng và chiều sâu, hợp tác đào tạo & nghiên cứu khoa học để hội nhập kinh tế
Quốc tế.
Chiến lược phát triển khoa, giai đoạn 2006-2011 và tầm nhìn
đến năm 2020, đó là đào tạo theo nhu cầu của xã hội và của người học. Thực hiện
nhiệm vụ KHCN thập kỷ đầu của thế kỷ XXI - Thế kỷ của Công nghệ sinh học và Công
nghệ thông tin, vì vậy các sản phẩm mới của khoa học cần phải gắn kết chặt chẽ 4
Nhà: Nhà khoa học - Nhà Quản lý - Nhà doanh nghiệp và Người sử dụng.
Trong nhiệm kỳ này Khoa có 11 bộ môn: Quản lý đất đai, Quy
hoạch đất đai, Trắc địa bản đồ & GIS, Khoa học Đất, Nông hoá, Vi sinh vật, Tài
nguyên nước, Sinh thái môi trường, Công nghệ Môi trường, Quản lý môi trường và
bộ môn Hoá học.
Hiện tại, số cán bộ
công nhân viên chức trong Khoa là 129 người, trong đó trên 75% có trình độ trên
đại học, trên 50% là cán bộ trẻ; số GS, PGS là 19 người, số GVC là 41 người; số
tiến sỹ là 43, số thạc sỹ 46 người. Khoa có 1 nhà giáo Nhân dân và 9 nhà giáo Ưu
tú.
Trong 35 năm qua, một chặng đường không dài, nhưng thành tích
mà khoa Tài nguyên và Môi trường đã đạt được thật đáng tự hào, là Khoa đầu đàn
của ngành Tài nguyên và Môi trường toàn quốc, là một Khoa mạnh toàn diện trong
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, đã có những đóng góp tích cực cho sự phát
triển ngành tài nguyên môi trường và nền nông nghiệp của đất nước.
Hiện nay, trên khắp mọi miền của Tổ quốc đều có mặt các cán
bộ khoa học kỹ thuật được đào tạo tại khoa Tài nguyên và Môi trường. Họ đã và
đang tham gia tích cực vào việc quản lý, khai thác nguồn tài nguyên đất đai, tài
nguyên nước, tài nguyên thiên nhiên có hiệu quả theo hướng phát triển bền vững…
Đó là trên 6500 kỹ sư ngành Quản lý đất đai, 640 kỹ sư ngành Thổ nhưỡng- Nông
hoá và ngành Khoa học đất được đào tạo theo hệ thống chính quy từ khoá 22 đến
khoá 52 và 730 kỹ sư ngành Quản lý đất đai được đào tạo theo hình thức tại chức
tại Trường từ khoá 17 đến khoá 37. Đó còn là 3306 kỹ sư Quản lý đất đai được đào
tạo theo hệ thống đại học tại chức tại 20 tỉnh, thành trong cả nước từ miền núi
phía Bắc đến đồng bằng Nam Bộ, Tây Nguyên. Trên 850 kỹ sư ngành Khoa học Môi
trường được đào tạo theo hệ thống chính quy từ khoá 48 đến khoá 52 và 68 kỹ sư
ngành Khoa học Môi trường được đào tạo theo hình thức vừa học vừa làm tại tỉnh
Quảng Ngãi. Đó là vốn quý của các địa phương, vì họ là những người giàu kinh
nghiệm thực tiễn, được trang bị kiến thức mới, lại trực tiếp làm việc tại cơ sở.
Hiện nay, Khoa đang có 45 lớp chính quy tại trường (3 khóa
K53, K54, K55) với tổng số 3007 sinh viên, trong đó: ngành Quản lý đất đai 1507
SV, ngành Khoa học môi trường 1286 SV, ngành Khoa học đất 174 SV, ngành Nông hóa
40 SV. Ngoài ra còn có 13 lớp đại học vừa học vừa làm tại các địa phương với
trên 900 SV. Khoa đang quản lý 17 lớp cao học (K18, K19) với tổng số 495 học
viên, trong đó ngành QLĐĐ 412 HV, ngành Khoa học môi trường 45 HV, ngành KHĐ 38
HV. Khoa hiện có 59 nghiên cứu sinh đang được đào tạo tại khoa thuộc các chuyên
ngành: Quản lý đất đai, Quy hoạch sử dụng đất, Đất và dinh dưỡng cây trồng.
Các cán bộ do Khoa đào tạo có trình độ chuyên môn vững vàng,
được cơ sở sử dụng đánh giá tốt. Nhiều người trong số họ đã, đang đảm nhiệm các
chức vụ quan trọng trong các cơ quan Nhà nước; nhiều người đã trở thành GS, PGS,
TS, đang công tác, giảng dạy, nghiên cứu trong các trường đại học, các viện
nghiên cứu; nhiều người đã trở thành các doanh nhân, các nhà doanh nghiệp tiêu
biểu.
Hiện nay, Khoa Tài nguyên và Môi trường có 8 chuyên ngành
đào tạo bậc đại học, đó là: Quản lý đất đai, Luật đất đai và bất động sản, Môi
trường, Quản lý môi trường, Công nghệ mô trường, Khoa học đất, Nông hóa, Tài
nguyên nước; 4 ngành đào tạo cao học, đó là: Quản lý đất đai, Khoa học môi
trường, Khoa học đất, Quản lý Tài nguyên nước; 6 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ,
đó là: Quản lý đất đai, Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp, Đất và dinh dưỡng cây
trồng, Thổ nhưỡng, Nông hóa, Tài nguyên nước.
Trong 35 năm qua, ngoài nhiệm vụ đào tạo, khoa Tài nguyên và
Môi trường còn thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ,
góp phần đáng kể cho sự phát triển nông nghiệp của đất nước. Khoa đã chủ trì và
tham gia 25 đề tài cấp Nhà nước, chủ trì 64 đề tài cấp Bộ, hàng trăm đề tài cấp
cơ sở và các dự án chuyển giao KHCN vào sản xuất ở hầu hết các tỉnh trên toàn
quốc. Các đề tài và địa điểm khoa chuyển giao KHCN, đó là:
- Kiểm kê đất đai
và quy hoạch sử dụng đất ở các địa phương: TP Hà Nội (Đông Anh, Gia Lâm, Hoài
Đức, Đan Phương, Phú Xuyên, Chương Mỹ); Quảng Ninh (Uông Bí, Đầm Hà, Hải Hà, Cẩm
Phả); Hải Dương (Thanh Miện, Bình Giang, Ninh Giang); Vĩnh Phúc (Yên Lạc, Tam
Dương); Phú Thọ (Tam Nông, Thanh Thủy); Lào Cai (Bảo Yên); Hoà Bình (Lương Sơn,
Kỳ Sơn); Ninh Bình (Kim Sơn); Thanh Hóa (Đông Sơn, Hậu Lộc, Hà Trung); Bắc Giang
(Hiệp Hòa, Yên Dũng); Hưng Yên (Mỹ Hào, TP Hưng Yên, Khoái Châu, Văn Lâm), Thái
Bình (Đông Hưng); Hà Nam (Lý Nhân); Nghệ An (Nam Đàn); Hà Tĩnh (TP Hà Tĩnh, Lộc
Hà, Nghi Xuân, Đồng Lộc); Quảng Bình (Bố Trạch), Đắc Lắc (KrongAna, CuKuin).
- Quy hoạch môi
trường, ĐTM, ĐMC, xử lý phế thải, nước thải, phế phụ phẩm chống ô nhiễm môi
trường v v..ở các tỉnh: Ninh Bình, Lào Cai, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Giang, Lai
Châu, Quảng Ninh, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Hà Nội và các khu công nghiệp, làng
nghề, bệnh viện ở các tỉnh thành phía Bắc.
- Quy
hoạch phát triển nông nghiệp và quy hoạch nông thôn mới ở các tỉnh: Hà Nội, Hà
Tĩnh, Bắc Giang, Quảng Ninh, Thái Bình, Hưng Yên…
- Đánh
giá phân hạng đất, ô nhiễm đất, nước và chuyển giao các chế phẩm sinh học, sản
phẩm mới dùng trong sản xuất nông nghiệp và xử lý môi trường, được triển khai ở
các địa phương: Hà Nội, Hưng Yên, Thái Bình, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Thái Nguyên,
Bắc Giang, Hải Dương, các tỉnh ven biển Bắc trung bộ, Tây nguyên, các tỉnh thuộc
bán đảo Cà Mau…
Điều đáng ghi nhận
là trong số các đề tài nghiên cứu, các dự án chuyên giao có nhiều đề tài có tầm
cỡ quốc gia, quốc tế. Đặc biệt là những chương trình về quản lý, sử dụng nguồn
tài nguyên đất đai và môi trường. Nhiều công trình được Nhà nước tặng thưởng
huân, huy chương, bằng khen, bảng vàng danh dự, bằng sáng chế, giấy chứng nhận
tiến bộ mới.
Việc hợp tác quốc
tế về đào tạo và nghiên cứu khoa học được đẩy mạnh trong thời gian gần đây. Khoa
đã có quan hệ với một số quốc gia và tổ chức quốc tế, như: CHLB Nga, Nhật Bản,
Hoa Kỳ, Viện nghiên cứu di truyền thế giới, CHLB Đức, Ban Lan, Cộng hòa Séc,
Lào, Căm pu chia, Thái Lan, Trung Quốc…Khoa đã cung cấp một số chuyên gia làm
công tác đào tạo ở Algeria, Congo, Angola và một số chuyên gia chỉ đạo sản xuất
tại Senegal.
Những thành tựu
của 35 năm qua sẽ là cơ sở cho sự phát triển cao hơn ở chặng đường tiếp sau. Đến
nay đã có trên 75% số môn học có giáo trình, 100% số môn học đã được in bài
giảng. Một số cơ sở vật chất được trang bị hiện đại trong thời gian vừa qua, cần
được khai thác triệt để phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học. Khoa có Trung
tâm phân tích JICA có khả năng phân tích các chỉ tiêu chuyên sâu về đất, nước,
phân bón, cây trồng… ; Trung tâm phân tích môi trường có khả năng phân tích các
chỉ tiêu chuyên sâu về lĩnh vực môi trường; Phòng Sinh học đất với thiết bị
chuyên dụng phân tích về môi trường đất, nước, sinh vật đất....; Các phòng thực
hành, thực tập thuộc các bộ môn: Phòng thực hành tin học, viễn thám, đo vẽ bản
đồ, số hóa bản đồ, phòng in bản đồ, Trung tâm quan trắc khí tượng thủy văn...Đặc
biệt là khoa có Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên đất và Môi trường có chức năng
nhiệm vụ bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, triển khai các dự án thuộc lĩnh vực Tài
nguyên & môi trường dưới hình thức tự hoạch toán theo thông tư 115, có con dấu
riêng, tài khoản riêng.
Phía
trước chúng ta là một chặng đường mới đầy triển vọng, cùng với vận hội mới của
đất nước và sự phát triển của Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, nhưng cũng còn
khó khăn, thử thách. Toàn thể cán bộ công nhân viên và sinh viên khoa Tài nguyên
và Môi trường đồng tâm, nhất trí sửa soạn hành trang để bước vào thời kỳ xây
dựng và phát triển mới.
Sự
thành đạt của các cựu sinh viên sẽ mãi mãi là niềm tự hào và nguồn động viên đầy
sức mạnh đối với mọi thành viên trong Khoa, trong sự nghiệp đào tạo, nghiên cứu
khoa học và chuyển giao công nghệ, phục vụ công cuộc hiện đại hoá nền nông
nghiệp, nông thôn Việt Nam, thực hiện thành công Nghị quyết của Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ XI, phấn đấu đến năm 2020 đưa Việt Nam trở thành một Quốc gia
công nghiệp./.