BÁO CÁO
Tự đánh giá kiểm
định chất lượng
A. GIỚI THIỆU CHUNG
I. THÔNG TIN CHUNG
1. Tên trường:
2. Tên viết tắt: HUA
3. Tên trước đây:
- Trường Đại học Nông Lâm
- Học Viện Nông Lâm
- Trường Đại học Nông nghiệp
- Trường Đại học Nông nghiệp I
4. Cơ quan Bộ chủ quản: Bộ
Giáo dục và Đào tạo
5. Địa chỉ Trường: Thị trấn Trâu
Quỳ, Huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội
6. Số điện thoại liên hệ:
048276346, fax: 048276554
e-mail:
master@hua.edu.vn website:
www.hua.edu.vn
7. Năm thành lập:
Ngày 12 tháng 10 năm 1956,
theo Nghị định số 53/NĐ-NL của Bộ Nông Lâm
8. Thời gian bắt đầu đào tạo
khoá I: Năm 1956
9. Thời gian cấp bằng tốt
nghiệp cho khoá thứ nhất: 24/12/1959
10. Loại hình trường đào tạo:
Trường công lập, trọng điểm quốc gia
II. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ TRƯỜNG
11. Các giai đoạn xây dựng và phát
triển
a) Giai đoạn 1956 - 1966
Tiền thân là Trường Đại học Nông Lâm,
được thành lập theo Nghị định số 53/NĐ-NL ngày 12/10/1956 của Bộ
Nông Lâm, gồm 3 khoa: Nông học, Chăn nuôi -Thú y, Lâm học; 5 ngành
học, gồm: Trồng trọt, Cơ khí nông nghiệp, Chăn nuôi, Thú y và Lâm
nghiệp và 3 phòng Hành chính quản trị, Tổ chức cán bộ và Giáo vụ.
Năm 1958, sáp nhập thêm Viện Khảo cứu
trồng trọt, Viện Khảo cứu chăn nuôi, Phòng Nghiên cứu gỗ và Lâm sinh
để trở thành Học viện Nông Lâm. Năm 1965, mở thêm ngành Nuôi trồng
và đánh bắt chế biến thuỷ sản, Kinh tế nông nghiệp. Năm 1963, sau
khi chuyển một phần cán bộ và cơ sở vật chất kỹ thuật để thành lập
Viện Khoa học Nông nghiệp và Trường Đại học Lâm nghiệp, Học viện đổi
tên thành là Trường Đại học Nông nghiệp.
Trường Đại học Nông nghiệp là cái nôi
đầu tiên đào tạo cán bộ KHKT trình độ đại học Nông - Lâm - Ngư
nghiệp cho cả nước. Qua 10 năm đầu xây dựng, Trường đã đào tạo cho
đất nước 2230 kỹ sư, hầu hết đã trở thành cán bộ đầu đàn, chủ chốt
của các trường, viện, bộ ngành thuộc lĩnh vực nông nghiệp và các địa
phương trong cả nước, góp phần tích cực thực hiện đường lối xây dựng
hợp tác xã nông nghiệp của Đảng và Nhà nước. Trong công tác NCKH,
Trường đã tạo ra 3 giống lúa cấp quốc gia: 813, 828 và VN1; 2 giống
khoai lang cho năng suất cao.
b) Giai đoạn 1967 - 1975
Năm 1967, theo Quyết định số 124/CP của
Thủ trướng Chính phủ, Trường Đại học Nông nghiệp đổi tên thành
Trường Đại học Nông nghiệp I. Năm 1967, Trường thành lập thêm khoa
Kinh tế Nông nghiệp. Năm 1968, Trường tách khoa Thuỷ sản để thành
lập Trường Đại học Thuỷ sản.
Trong thời kỳ vô cùng khó khăn ác liệt
của cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ trên miền Bắc, Trường phải đi
sơ tán nhiều nơi, đội ngũ thày và trò Nhà trường đã khắc phục mọi
thiếu thốn, phát huy phong trào thi đua dạy tốt - học tốt, hàng trăm
cán bộ và sinh viên tình nguyện lên đường đi chiến đấu và phục vụ
chiến đấu trên các chiến trường. Có nhiều tấm gương sáng trong chiến
đấu như liệt sĩ Vương Đình Cung, trong học tập như đồng chí Dương
Thanh Liêm đã được Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
phát động tuổi trẻ toàn miền Bắc học tập và noi theo.
Trường đã đào tạo được 8.711 cán bộ,
đồng thời đã tiến hành nghiên cứu khoa học và chuyển giao tiến bộ kỹ
thuật vào sản xuất rất hiệu quả, điển hình là chuyển đổi cơ cấu mùa
vụ: chuyển vụ lúa chiêm sang sản xuất vụ lúa xuân; đẩy mạnh chỉ đạo
các địa phương thực hiện phong trào sản xuất “5 tấn thóc, 2 con
lợn/1 lao động/1 ha gieo trồng”, phong trào “Điện khí hoá, Thuỷ lợi
hoá và Hoá học hoá”; nghiên cứu sử dụng bèo hoa dâu thâm canh lúa và
làm thức ăn gia súc; xây dựng bờ vùng bờ thửa; gieo vãi lúa đã được
áp dụng trên khắp miền Bắc. Trường đã tạo ra 6 giống lúa cấp quốc
gia (ĐX2, ĐX3, ĐX4, ĐX5, VN10, VN20) có khả năng thâm canh và cho
năng suất cao, được gieo trồng phổ biến trên miền Bắc; tạo ra 3 mẫu
máy nông nghiệp (máy đạp lúa, máy cày xá nhỏ, máy cắt cói).
c) Giai đoạn 1975 - 1990
Ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn giải
phóng, Nhà trường đã chia sẻ đội ngũ cán bộ cốt cán, có trình độ vào
tiếp quản và xây dựng Trường Đại học Nông nghiệp IV (nay là Trường
Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh); đồng thời cử hàng trăm cán
bộ có kinh nghiệm, kỹ sư mới tốt nghiệp bổ sung đội ngũ cán bộ cho
các ban ngành của các tỉnh phía Nam.
Năm 1976, Trường thành lập thêm Khoa
Quản lý ruộng đất, là khoa đầu tiên đào tạo cán bộ địa chính cho cả
nước. Giai đoạn này Trường có 8 khoa với 9 ngành và chuyên ngành.
Nhà trường đã đào tạo được 9854 kỹ sư,
tạo ra 4 giống lúa cho năng suất cao (T125, A3, A4, A5); chế tạo
được 11 mẫu máy nông nghiệp (máy nghiền trục đứng, máy trộn thức ăn
gia súc, máy thái củ, máy đào sắn, khoai tây, máy băm vùi thân lá
dứa sau thu hoạch, máy rũ đay ngâm,…) được áp dụng rộng rãi trong
sản xuất và đem lại hiệu quả kinh tế cao.
d) Giai đoạn 1991 – 2000
Khi đất nước bước vào thời kỳ mở cửa,
nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, đứng trước vận hội mới, đồng thời cũng có nhiều thách
thức mới, Trường Đại học Nông nghiệp I đã thực hiện công cuộc đổi
mới toàn diện về đào tạo, NCKH và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào
sản xuất để đáp ứng các nhu cầu phát triển của các thành phần kinh
tế - xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cũng
như chiến lược đổi mới nền giáo dục đại học nước nhà.
Trường đã thực hiện đa dạng hoá các loại
hình đào tạo, đào tạo từ trung học chuyên nghiệp, dạy nghề đến đại
học và sau đại học. Quy mô đào tạo không ngừng tăng, chất lượng từng
bước được nâng cao, nhiều ngành nghề đào tạo mới được mở. Trường đã
đào tạo được 8862 kỹ sư, chọn tạo được 21 giống cây trồng mới, lai
tạo 1 giống lợn (giống Đại Bạch x Móng Cái, đã được trao giải thưởng
Hồ Chí Minh) và chế tạo được 11 mẫu máy nông nghiệp (máy nghiền trục
đứng, máy trộng thức ăn gia súc, máy thái củ, máy phay, máy đào củ
sắn, khoai tây, máy băm vùi thân lá dứa,…) đóng góp tích cực cho sự
phát triển nông nghiệp và nông thôn. Nhà trường đã phát huy
được vị thế trường đầu ngành
trong khối các trường đại học Nông - Lâm - Ngư.
e) Giai đoạn 2001 – 2006
Trường có 11 khoa, 9 phòng ban, 12 viện
và trung tâm, với 943 CBCNV, trong đgó có 524 cán bộ giảng dạy
(61giáo sư, phó giáo sư, 326 tiến sĩ và thạc sĩ). Trường có 29 chương
trình đào tạo đại học và cao đẳng, 28 chương trình đào tạo sau đại
học.
+ Về đào tạo : Mục tiêu đào tạo phải đáp
ứng nhu cầu lao động có trình độ cao cho các thành phần kinh tế:
Kinh tế Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, liên doanh nước ngoài, doanh
nghiệp nước ngoài, các hợp tác xã và kinh tế trang trại,…
Xuất phát từ năng lực của Trường và nhu
cầu nhân lực trình độ cao của ngành nông nghiệp, quy mô đào tạo của
Trường tăng mạnh cả bậc đại học và bậc sau đại học. Quy mô đào tạo
bậc đại học liên tục tăng, từ 12.300 người học năm 2001 tăng lên
17.600 năm 2005 (tăng 43%). Bậc sau đại học tăng mạnh, từ 469 học
viên năm 2001 lên 857 học viên năm 2005 (tăng 82%). Trước đây đối
tượng đào tạo sau đại học chủ yếu là cán bộ giảng dạy và nghiên cứu
của các trường, viện, nay đã chuyển sang đối tượng là cán bộ khoa
học ở các cơ sở sản xuất và địa phương.
Tính đến 31/3/2006, Trường đã đào tạo
cho đất nước trên 44800 kỹ sư, 1072 thạc sĩ, 267 tiến sĩ và nhiều
cán bộ có trình độ cao đẳng, trung cấp và kỹ thuật viên. Từ năm 2001
đến 31/3/2006, đào tạo được trên 11900 kỹ sư, 668 thạc sĩ, 77 tiến
sĩ.
+ Về khoa học công nghệ: Trong 5 năm
(2001 – 2005), Trường đã thực hiện nghiên cứu 39 đề tài, chương
trình cấp Nhà nước, 191 đề tài, chương trình cấp Bộ, 115 chương
trình cấp Tỉnh và 411 đề tài cấp Trường; 30 tiến bộ khoa học kỹ
thuật được công nhận và áp dụng vào sản xuất mang lại hiệu quả kinh
tế cao; 2 cụm công trình khoa học được trao giải thưởng Nhà nước năm
2005. Trường đang thực hiện các đề tài theo Nghị định thư giữa Chính
phủ Việt Nam với Chính phủ 4 nước: Trung Quốc, Italy, Hunggari, Cộng
hoà liên bang Đức; đồng thời có quan hệ hợp tác với gần 60 tổ chức,
trường, viện của nước ngoài.
Trường đã được Đảng và Nhà nước tặng
thưởng Huân chương Hồ Chí Minh năm 2001, danh hiệu Anh hùng Lao động
trong thời kỳ đổi mới năm 2005.
Xem chi
tiết tại đây
|